Gừng ăn buổi sáng bổ như nhân sâm, gừng ăn chiều tối độc như thạch tín.
Gừng là ngọn lửa thần phải biết thắp mới sưởi ấm được trong ngoài cơ
thể.
Tác dụng của gừng
Đối với các trường hợp
cảm lạnh ho sốt không ra mồ hôi và rối loạn tiêu hóa, có thể nhai tươi,
nuốt cả cái lẫn nước, ngậm gừng khô, gừng nướng... uống nước gừng sắc.
Trong trường hợp cảm
lạnh, dùng gừng đánh gió, giã gừng đắp khi bị chấn thương gây sưng bầm
khớp đau nhức, côn trùng thú cắn.
Uống bia gừng - cho
gừng thái sợi vào bia, vừa trừ được hàn thấp lại gây lợi tiểu chống bụng
phệ (bụng bia).
Đông y từ lâu đã nói
dùng gừng xào với tỏi tôm ăn buổi tối để lấy lại sự trẻ trung sung mãn
và chữa chân dương kém ở những người trẻ bị lãnh cảm tình dục.
Gừng chống viêm, giảm
đau trong viêm cơ xương khớp (75-85%).
Bột gừng hòa nước uống
làm dịu cơn đau đầu.
Gừng khống chế sinh
trưởng tế bào ung thư ở một số giai đoạn nhất định và chữa hội chứng nôn
mửa của bệnh nhân ung thư đang được điều trị bằng hóa dược và xạ trị.
Trên tim mạch: Gừng ức
chế men ATPase. Kích thích thần kinh tim tăng nhịp tim, dãn mạch, tăng
cường tuần hoàn, làm ấm cơ thể, giảm đau.
Phòng chống say tàu xe,
chóng mặt, nôn mửa. Gừng không gây buồn ngủ nên du khách tỉnh táo chiêm
ngưỡng cảnh đẹp trên đường, phòng chống rối loạn tiêu hóa do thức ăn lạ
ở những nơi mới đến, phòng cảm gió lạnh khi trở trời trên hành trình
chống tê mỏi do phải ngồi lâu trên ô tô. Trà gừng là bạn của du khách,
không quên nó trong hành trang.
Trên bộ máy sinh dục,
gừng làm tăng lượng tinh dịch và tính năng động của tinh trùng 70 - 90%
Gừng tăng nhu động ruột,
tăng tiết dịch, tăng hấp thụ. Các nhà khoa học Nhật thấy gừng hạn chế sự
hình thành sỏi mật và khuyên người có sỏi mật ăn gừng.
|
Gừng tươi chứa
nhiều gingerol hơn nên cay hơn. Qua phơi sấy khô bị mất nước thành
shoagol. Shoagol nóng hơn gingerol. Tinh dầu: Trong gừng khô chứa
200 chất và tiêu biểu là gingerone. Chất khoáng: K, Ca, P, Fe, Mg,
Mn, Zn, Co, Ge, Se. Các caroten (tiền vitamin A), nhóm B, C, E.
Gừng chống ôxy
hóa, chống lão hóa: Mạnh hơn cả vitamin E do chứa 12 hoạt chất chống
ôxy hóa. |
Dùng gừng cũng lắm công phu
Phải luôn nhớ đặc tính
của gừng là tân tán, phát biểu để tôn trọng cách dùng. Phản chỉ định:
Bệnh gan, đau mắt, trĩ, nội nhiệt.
Cặp đôi gừng với tỏi
được người xưa tuyển chọn từ ngàn xưa (tỏi không đi với nghệ). Gừng tươi
phải dùng loại 8-9 tháng không bị quá non, quá già. Gừng để vỏ thì mát,
bỏ vỏ thì nóng.
Dùng theo thời khắc:
“Mùa hè ăn gừng, (mùa đông ăn củ cải), sáng trưa ăn gừng, chiều tối kỵ
gừng. Có sách viết: “Gừng ăn buổi sáng bổ như nhân sâm, gừng ăn chiều
tối độc như thạch tín. Gừng là ngọn lửa thần phải biết thắp mới sưởi ấm
được trong ngoài cơ thể.
Cần thận trọng đối với
phụ nữ có thai, người dễ ra mồ hôi.
Còn có nhiều cách dùng
gừng dân dã, kịp thời để chống nôn, chóng mặt. Củ gừng tươi cả vỏ rửa
sạch khía từng lát mỏng. Khi cần lấy ra một, hai lát ngâm, nhậm nhi nuốt
nước có thể nuốt cả cái (cách này tốt nhất). Đắp gừng tươi thái mỏng lên
các huyệt nội quan lấy băng dính cố định. Có thể giã gừng với tỏi, đắp
lên huyệt nội quan và đan điền (dưới rốn). Gừng giã nát, hòa nước đun
sôi gạn lấy nước thấm khăn (vắt hết nước) quấn quanh cổ. Uống trà gừng
dấm: gừng 25g, dấm ăn 25g. Gừng sạch thái lát cho vào lọ đổ dấm ngâm 1
đêm lấy ra 5 miếng, cho ít đường vào pha nước sôi, uống thay nước đi
đường. Đến bữa ăn nên có món gừng muối chua...
Theo BS. Phó Thu Hương
Sức khỏe & Đời sống