Không rõ nguồn gốc xuất xứ ra sao, nhưng Trà Kỷ tử đã được lưu
truyền rộng rãi trong dân gian nhiều nước phương Đông và sau này đều
được ghi lại trong các sách viết về Trà dược cổ truyền. Trà Kỷ tử là một
trong những loại trà thuốc hết sức đơn giản, chỉ gồm có độc vị Kỷ tử
nhưng công dụng thì lại rất nổi tiếng. Chỉ cần mỗi ngày lấy 15g Kỷ tử
hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút là ta đã có được
một thứ nước màu đỏ đẹp, thơm ngon, vừa có tác dụng giải khát thay trà
trong ngày lại vừa có công năng bổ thận ích tinh và dưỡng can minh mục.
Cổ nhân thường dùng Trà Kỷ tử để bồi bổ cơ thể và phòng chống tích cực
các chứng bệnh như suy nhược toàn thân sau khi bị bệnh nặng, đầu choáng
mắt hoa, giảm thị lực do nhiều nguyên nhân, lưng đau, gối mỏi, suy nhược
năng lực tình dục, di mộng tinh, xuất tinh sớm, muộn con…
Kỷ tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây Khởi tử có tên
khoa học là Lycium barbarum L. (Lycium chinense Mill).
Thời cổ đại, nó còn được gọi bằng các tên như Thiên tinh (tinh của trời),
Địa tiên (tiên của đất), Khước lão (đẩy lui tuổi già)…, điều đó cho thấy
giá trị đặc sắc của vị thuốc này.
Chuyện kể lại rằng: Vào đời Đường (Trung Quốc), tể tướng
Phương Huyền Linh vì dụng tâm quá độ giúp Đường Thái Tông Lý Thế Dân cai
quản triều chính nên tinh thần luôn bất an, cơ thể thường mệt mỏi, được
quan thái y cho dùng thường xuyên món canh Kỷ tử nấu với Ngân nhĩ (Mộc
nhĩ trắng) nên sức khoẻ dần được phục hồi, tinh thần trở nên tráng kiện.
Đại thi nhân Lưu Vũ Tích cũng đã từng viết thơ ca tụng công dụng của Kỷ
tử: “Thượng phẩm công năng cam lộ vị, hoàn tri nhất chước khả diên niên”
(Công năng tuyệt diệu mùi thơm ngọt, một gáo nên hay sẽ sống lâu). Trong
y thư nổi tiếng Bản thảo cương mục, nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân
cũng cho rằng “Phục Kỷ tử thọ bách niên, hành tẩu như phi, bạch phát
phản hắc, xỉ lạc canh sinh, dương sự cương kiện” (Uống Kỷ tử thọ trăm
năm tuổi, đi lại nhanh nhẹn, tóc bạc đen lại, răng chắc, dương sự mạnh
mẽ).
Tại Trung Quốc, Kỷ tử phân bố ở nhiều nơi nhưng loại được
trồng ở Ninh Hạ có chất lượng cao hơn cả, người ta gọi vị thuốc này là
“Minh mục tử”, có nghĩa là thứ quả làm sáng mắt. Truyền thuyết kể lại
rằng: Ngày xưa ở Ninh An thuộc tỉnh Ninh Hạ có một cô gái tên là Cẩu
Hồng Quả. Cha cô không may mất sớm, vì quá thương nhớ chồng mình, mẹ cô
khóc nhiều đến nỗi cả hai con mắt không còn nhìn thấy gì cả. Để chữa
bệnh cho mẹ, Cẩu Hồng Quả đã không quản gian lao, ngày đêm trèo đèo lội
suối lên tận Nam Sơn hái thuốc. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cô,
tiên ông Bạch Hồ Tử đã hiện ra và chỉ dẫn Cẩu Hồng Quả thu hái Kỷ tử về
làm thuốc cho mẹ uống. Quả nhiên, sau một thời gian dùng thuốc, mắt mẹ
cô ngày càng sáng ra và khỏi hẳn. Vì thế, dân trong vùng gọi loại thảo
dược này là “Minh mục tử” và coi đó là thứ “Linh đan diệu dược” chuyên
chữa bệnh về mắt.
Theo dược học cổ truyền, Kỷ tử vị ngọt, tính bình, vào ba
kinh Can, Thận và Phế; có công dụng tư bổ Can Thận, dưỡng huyết minh mục
và nhuận phế. Y thư cổ Bản thảo kinh sơ viết: “Kỷ tử, nhuận nhi tư bổ,
kiêm năng thoái nhiệt, nhi chuyên vu bổ thận nhuận phế, sinh tân ích khí,
vi can thận chân âm bất túc, lao phiếm nội nhiệt, bổ ích chi yếu dược.
Lão nhân âm hư giả thập chi thất bát, cố phục thực gia vi ích tinh minh
mục chi thượng phẩm” (Kỷ tử nhuận và bổ, lại có khả năng giải nhiệt nên
là vị thuốc trọng yếu để bổ thận nhuận phế, sinh dịch mới và ích khí,
chuyên chữa chứng can thận âm hư mà sinh nhiệt bên trong; là vị thuốc bổ
tinh, sáng mắt, được coi là thượng phẩm đối với người già vốn phần âm đã
hư hao bảy, tám phần). Y học cổ truyền cho rằng: Can là cơ quan có chức
năng tàng huyết, chủ về cân, khai khiếu ở mắt; Thận tàng tinh, chủ về
xương, khai khiếu ở tai. Hai cơ quan này đều nằm ở phần dưới của cơ thể
(hạ tiêu), có chức năng tương hỗ lẫn nhau, “ất quý đồng nguyên, can thận
đồng trị”, tinh huyết hỗ sinh. Nếu Can Thận âm hư thì tinh và huyết đều
thiếu nên không thể nuôi dưỡng mắt đầy đủ được mà phát sinh chứng trạng
hoa mắt, mắt mờ, thị lực giảm sút… Kỷ tử là vị thuốc vào được cả kinh
Can và Thận, một mặt bổ ích Thận tinh, một mặt bổ dưỡng Can huyết nên có
thể chữa được các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, nhìn mờ, tai ù,
điếc, lưng đau gối mỏi, di tinh, liệt dương…
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, Kỷ tử là một trong
những vị thuốc có tác dụng dược lý rất phong phú:
- Cải thiện và điều tiết công năng miễn dịch của cơ thể.
- Nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống nội tiết Hạ khâu
não - Tuyến yên - Tuyến thượng thận.
- Bảo vệ tế bào gan, ức chế sự lắng đọng chất mỡ trong gan,
thúc đẩy quá trình tái sinh của tế bào gan.
- Điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ cholesterol và làm
chậm sự hình thành các mảng vữa xơ trong huyết quản.
- Hạ đường huyết.
- Làm giãn mạch và hạ huyết áp.
- Thúc đẩy quá trình tạo huyết của tuỷ xương.
- Chống oxy hoá và làm chậm sự lão hoá.
- Nâng cao sức chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu
oxy, phòng chống tích cực trạng thái mệt mỏi.
- Chống phóng xạ và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư…
Điều này cho thấy những nhận định của cổ nhân về công dụng
tuyệt vời của Kỷ tử là hoàn toàn có cơ sở.
Để nâng cao tác dụng của trà Kỷ tử, tuỳ theo thể chất và
chứng trạng cụ thể, người ta thường gia thêm một số vị thuốc khác như
Cúc hoa (để làm sáng mắt và chữa đau đầu, chóng mặt), Mạch môn và Ngũ vị
tử (để cải thiện trí nhớ và làm cho tinh thần tỉnh táo), Thảo quyết minh,
Đan sâm và Hà thủ ô (bổ Can Thận và làm hạ mỡ máu), Đương quy và Đại táo
(dưỡng huyết, làm tăng hồng cầu trong máu ngoại vi), Toan táo nhân và
Ngũ vị tử (dưỡng tâm an thần), Đông trùng hạ thảo (bổ thận trợ dương)…